DI TÍCH LỊCH  SỬ - VĂN HÓA TIÊU BIỂU

Tỉnh Bình Định có 234 di tích lịch sử - văn hóa, trong đó có hơn 60 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh. Tuy nhiên, trước mắt Cổng Thông tin điện tử UBND tỉnh Bình Định xin giới thiệu một số Di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu.

Di tích lịch sử

Dấu tích Văn hóa Sa Huỳnh trên đất Bình Định

Bình Định được xác nhận là một trong 3 trung tâm của văn hóa Sa Huỳnh với một hệ thống di chỉ phân bố khá dày đã được các nhà khảo cổ phát hiện, đào thám sát và khai quật như: Động Cườm, Gò Tháp, Ca Công, Động Bàu Năng, Phú Nhuận, Công Lương (Hoài Nhơn), Truông xe, Gò Lồi, Thuận Đạo, Chánh Trạch (Phù Mỹ), Hội Lộc, Núi Ngang, Đồi Điệp (Quy Nhơn).

Một số loại hình mộ chum văn hóa Sa Huỳnh.

Văn hóa Sa Huỳnh là một nền văn hóa nổi tiếng trong thời tiền sử và sơ sử Việt Nam, được đặt tên theo khu di tích mộ chum Sa Huỳnh (Đức Phổ, Quảng Ngãi) do M. Vinet phát hiện năm 1909, và chính thức định danh Văn hóa Sa Huỳnh vào năm 1937.Trên dải đất Việt Nam ngày nay, vào thời đại kim khí (cách ngày nay 3000-4000 năm) đã từng tồn tại 3 trung tâm văn hóa lớn: văn hóa Đông Sơn ở miền Bắc, văn hóa Óc Eo ở miền Nam và văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung. Không gian văn hóa Sa Huỳnh phân bố khá rộng từ Quảng Bình đến Đồng Nai và Tây Nguyên. Trong cảnh quan văn hóa chung rộng ấy, địa bàn Quảng Nam – Quảng Ngãi – Bình Định không những có số lượng di tích nhiều nhất mà còn có mật độ phân bố khá dày. Ba vùng có mật độ di tích cao nhất là vùng thềm phù sa có con sông Vu Gia, Tiên Hà, Thu Bồn; vùng cồn cát ven biển, gần sông Vĩnh Điện - Tam Kỳ - Vĩnh An và vùng cồn cát ven biển, gần bàu nước La Vận - Bàu Năng - Trà Ổ - Thị Nại (Quy Nhơn).

Những dấu vết văn hóa của cư dân cổ Sa Huỳnh trên đất Quy Nhơn được phát hiện khá muộn qua các cuộc điều tra, khảo sát và đào thám sát từ năm 1978, đã hé mở cho thấy cả bề dày và bề rộng của không gian lịch sử - văn hóa Bình Định nói chung và Quy Nhơn nói riêng.

Đồ gia dụng tùy táng văn hóa Sa Huỳnh.

Nhóm di tích tiền sử và sơ sử vùng đất Quy Nhơn: Hội Lộc, Núi Ngang, Đồi Điệp là một trong những tập hợp các di tích khảo cổ học, có cùng một tính chất, phát triển trong cùng một giai đoạn và cùng một khu vực với nhóm Truông xe, Gò Lồi, Chánh Trạch, Thuận Đạo (Phù Mỹ) và Động Cườm, Ca Công, Gò Tháp…(Hoài Nhơn) - vùng cồn cát ven biển, gần bàu nước: Thị Nại, Trà Ổ, Bàu Năng.

Hội Lộc, Núi Ngang, Đồi Điệp ngày này thuộc xã Nhơn Hội, thành phố Quy Nhơn, là một cồn cát trải dài một bên là đầm Thị Nại, một bên biển. Năm 1978, các nhà khảo cổ học phát hiện tại Hội Lộc, dọc cồn cát ven biển xuất lộ nhiều mảnh gốm màu đen xám rải hầu khắp bề mặt, đã tiến hành mở hai hố thám sát: 3m2 và 1m2, ở độ sâu 0,15m đến 0,35m, kết quả thu được một bàn mài xám nhạt, 24 mảnh cuội vỡ, 500 mảnh gốm các loại, hoa văn không rõ nét, chủ yếu là mảnh vỡ của bình, hũ, nồi đựng đáy bằng. Ngoài ra, còn phát hiện trong lớp đất màu xám có lẫn tro than.

Tại Núi Ngang, một ngọn núi nhỏ khá bằng phẳng cách đầm Thị Nại khoảng 400m, cũng thuộc địa phận thôn Hội Lộc, qua khảo sát phát hiện trên bề mặt có nhiều mảnh gốm vỡ, thuộc loại gốm thô pha nhiều cát, nhiệt độ nung cao, màu nâu, xương gốm màu đen.

Đồi Điệp thuộc thôn Hội Bình, được phát hiện năm 1997, dọc chân núi dưới lớp đất canh tác có một lớp vỏ sò điệp khá dày. Tuy chưa có cuộc đào thám sát kiểm tra, nhưng qua xói lở tự nhiên làm xuất lộ xác sò điệp dày khoảng 2m. Loại hình di tích như Đồi Điệp, các nhà khảo cổ đã phát hiện trong các di tích ở Bàu Tró (Quảng Bình).

Loại hình hiện vật tìm thấy qua khảo sát, đào thám sát tại Hội Lộc,  Núi Ngang và Đồi Điệp thuộc văn hóa Sa Huỳnh, chủ yếu là những mảnh bình, vò, nồi có nắp đậy, nói chung là loại hình đồ gia dụng, có kích cỡ nhỏ, chưa phát hiện những mảnh chum, vò lớn dùng để chôn xác người như khu mộ chum Động Cườm (Tam Quan Nam, Hoài Nhơn). Mặc dù, chưa có cuộc khai quật khảo cổ học mở rộng diện tích để nghiên cứu sâu, nhưng với những dấu tích vật chất còn để lại, các nhà khảo cổ học đã khẳng định chắc chắn: Từ hậu kỳ đồng thau và sắt sớm (cách ngày nay khoảng 2500 năm), Quy Nhơn đã có cộng đồng cư dân tiền sử đến định cư và sinh sống.

Mảnh gốm thô Gò cây Thị.

Hàng loạt trống đồng Đông Sơn được phát hiện trong những năm 90 của thế kỷ trước và những năm vừa qua trên địa bàn các huyện: Vĩnh Thạnh, Tây Sơn, Phù Cát, An Lão, có chôn theo nhiều mảnh gốm thô mang đậm phong cách văn hóa Sa Huỳnh đã có thêm nhận thức mới: Từ trước Công Nguyên người Sa Huỳnh đã có sự giao tiếp với không gian văn hóa Đông Sơn ở phía Bắc và không gian văn hóa Đồng Nai ở phía Nam; Đến thế kỷ thứ X, không gian xã hội văn hóa Champa cũng có sự giao tiếp và tiếp nối với không gian xã hội văn hóa Thăng Long – Đại Việt ở Bắc và không gian xã hội Phù Nam, Chân Lạp ở Nam. Có thể xem Quy Nhơn – Bình Định từng là nơi tiếp nhận và hội tụ các luồng văn hóa Bắc Nam, chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Ấn Độ miền Nam Á và văn hóa Trung Hoa miền Hoa Nam.

Giả thuyết khoa học được đề ra từ những năm trước về những di tích Sa Huỳnh muộn, có thể cũng là những di tích Champa sớm, đã và đang được làm sáng tỏ. Như vậy, chủ nhân văn hóa Sa Huỳnh là tổ tiên trực tiếp của những cư dân đã xây dựng quốc gia Champa. Quy Nhơn hiện nay có đủ di tích của hai nền văn hóa đó.

Di tích Chămpa:

Bình Định từng là kinh đô của Vương quốc Champa từ thế kỷ X đến thế kỷ XVI và thời vàng son đó còn lưu lại đến ngày nay những di sản vô giá với dấu tích thành quách và những ngọn tháp rêu phong vẫn đứng vững trước thử thách của thời gian, bằng chính những giá trị văn hóa nghệ thuật đích thực của chúng.

Tháp Đôi Quy Nhơn:

Được xây dựng vào cuối thế kỷ XII, nằm ở phường Đống Đa, thành phố Quy Nhơn, là một công trình kiến trúc đẹp và độc đáo gồm 2 tháp (tháp chính cao 20m, tháp phụ cao khoảng 18m). Tháp Đôi được xếp vào loại đẹp "độc nhất vô nhị" của nghệ thuật kiến trúc Champa. Cả 2 ngôi tháp đều không phải là tháp vuông nhiều tầng theo truyền thống của tháp Chăm mà là một cấu trúc gồm 2 phần chính: khối thân vuông và phần đỉnh hình tháp mặt cong, các góc tháp hiện lên những tượng chim thần Garuda, hai tay đưa cao như muốn nâng đỡ mái tháp. Vòm trên của các cửa vút cao lên như những mũi tên. Kiến trúc của tháp Đôi chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Ấn Độ Giáo.

Tháp Bánh Ít (hay còn gọi là tháp Bạc):

Được xây dựng vào cuối thế kỷ XI, đầu thế kỷ XII tại xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, trên đỉnh một quả đồi nằm giữa 2 nhánh sông Côn là Tân An và Cầu Gành, bên cạnh quốc lộ 1A, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 20 km. Đây là một quần thể gồm 4 tháp, đứng nhìn từ xa trông giống như chiếc bánh ít nên gọi là tháp Bánh Ít, mỗi tháp là một kiến trúc riêng biệt, mỗi sắc thái khác nhau. Trên đỉnh mỗi tháp đều có tượng thần Shiva làm bằng đá. Về phương diện nghệ thuật, trong toàn bộ di tích tháp Chàm còn lại trên đất Việt Nam, Bánh Ít là quần thể kiến trúc độc đáo với nhiều dáng vẻ kiến trúc đa dạng, trang trí đẹp, có giá trị nghệ thuật cao.

Tháp Dương Long (hay còn gọi là Tháp Ngà):

Ở xã Bình Hòa, huyện Tây Sơn, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 50km, được xây dựng vào cuối thế kỷ XII, vào thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của văn hóa nghệ thuật Chăm, là một quần thể gồm 3 tháp Chàm (tháp giữa cao 24m, hai tháp 2 bên cao 22m). Với nghệ thuật điêu khắc chạm trổ điêu luyện, các đường nét thể hiện vừa hoành tráng, lộng lẫy, vừa tinh tế mềm mại, những con vật và họa tiết trang trí vừa sống động chân thực, vừa huyền ảo kỳ bí, Tháp Dương Long được đánh giá là một trong những tháp Chàm đẹp nhất miền Trung, với đặc trưng độc đáo là có kích thước lớn và kiểu kiến trúc uy nghi.

Cụm Tháp Chămpa Dương Long.

Tháp Cánh Tiên:

Được xây dựng bên thành Đồ Bàn trên địa bàn xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn vào khoảng thế kỷ XVI. Điểm đặc biệt của tháp Cánh Tiên là phần phía trong các cột ốp tường được ốp kín bằng các phiến đá sa thạch màu tím có chạm khắc hoa văn dây xoắn. Ngôi tháp được tạo dáng, thanh thoát nhưng trang nghiêm, tháp có 4 tầng thu nhỏ dần về phía trên, tầng nào cũng có 4 tháp góc trang trí, mỗi góc lại có những tầng nhỏ, tạo dáng lá lật nhỏ dần về phía trên tạo cảm giác như cánh chim đang bay, từ vai tháp trở lên, bốn phía đều giống như cánh tiên bay lên nên được gọi là tháp Cánh Tiên.

Tháp Phú Lốc (hay còn gọi là tháp Vàng):

Ở xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, cách thành phố Quy Nhơn 35 km về phía Bắc, có vẻ đẹp ngạo nghễ, đượm buồn, đứng từ chân tháp du khách có thể nhìn khắp bốn hướng những cảnh trí kỳ vĩ xung quanh.

Tháp Bình Lâm:

Được xây trên một gò đất cao thuộc xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, cách thành phố Quy Nhơn 22 km. Tháp có bình đồ vuông, mỗi cạnh khoảng 10m, cao khoảng 20m chia làm 3 tầng, trang trí hoa văn tinh tế, kiến trúc hài hòa với những đường nét vừa thanh tú vừa khỏe khoắn.

Tháp Thủ Thiện:

Được xây cất trên một vùng đất tương đối thấp, trên bờ nam sông Côn thuộc xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn, cách thành phố Quy Nhơn 35 km về hướng Tây Bắc. Tháp có quy mô nhỏ, kiểu dáng trang nhã, thanh thoát, kỳ bí.

Các tháp trên đều đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử kiến trúc. Có thể nói hệ thống tháp Chàm ở Bình Định là hết sức phong phú, đa dạng tạo ra sức hấp dẫn đặc thù chỉ có ở Bình Định, đối với khách du lịch khi đến vùng Nam Trung bộ nói riêng và Việt Nam nói chung.

Di tích Tây Sơn

Bút tích Thái Đức - Nguyễn Nhạc.

Du khách sẽ được biết đến buổi đầu dựng nghiệp của Nhà Tây Sơn trong chuyện đánh chiếm phủ thành Quy Nhơn của nghĩa quân Tây Sơn dưới tài mưu kế của Nguyễn Nhạc để chống lại nhà Nguyễn. Chuyện kể rằng, năm 1773, sau khi chiêu dụ được rất nhiều nghĩa quân, Nguyễn Nhạc bèn lập đàn cáo Trời Đất, hợp thức hóa danh vị chức chưởng của chúa tôi và tế cờ xuất quân tiến về đồng bằng. Khi đạo quân Tây Sơn xuống đến núi Bà Phu thì trời xẩm tối, Nguyễn Nhạc truyền cho quân sĩ dừng chân nghỉ, đến khi gà cất tiếng gáy thì đạo quân của Nguyễn Nhạc tiếp tục lên đường. Binh đi như gió, mặt trời vừa mọc thì huyện lỵ Tuy Viễn đã bị bao vây. Nghe tiếng nghĩa quân Tây Sơn hò reo dậy đất, viên tri huyện hết hồn bỏ trốn, nhân viên trong huyện và tất cả binh lính đều xin quy hàng. Nguyễn Nhạc giao Tuy Viễn cho Nguyễn Văn Tuyết và Huyền Khê trấn giữ, rồi kéo quân ra đánh thành Quy Nhơn.

Thành Quy Nhơn là thành cũ của Đồ Bàn (thành Hoàng đế ngày nay) thuộc Chiêm thành xưa. Thành ở giữa Tuy Viễn và Phù ly, tường xây bằng đá ong, trên một dải gò cao, chung quanh có hào sâu bao bọc, thế rất vững. Quân Tây Sơn vây đánh ba ngày mà không lấy được. Tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên đóng cửa thành cố thủ. Nguyễn Nhạc không cách nào đưa quân vào được, ông bèn truyền lui binh rồi cho đi đóng rải rác, giấu quân, nằm im chờ lệnh. Lúc này Tuần Tuyên hí hửng tưởng quân Tây Sơn đã thua cuộc kéo về núi, thông báo trong nhân dân ai bắt sống được Nguyễn Nhạc đem nộp hoặc giết chết lấy đầu đem nộp, sẽ được trọng thưởng.

Vậy là Nguyễn Nhạc bèn dùng kế “Ngựa chiến thành Troya”! Ông cho đóng một cái cũi thật kiên cố, bên trong được thiết kế dễ dàng cho việc mở, đóng, rồi tự mình vào ngồi trong cũi, bảo nghĩa quân khiêng dâng nộp cho tuần phủ Khắc Tuyên. Trước khi đi, Nguyễn Nhạc hạ lệnh và sắp xếp: “Tướng sĩ phải chuẩn bị sẵn sàng, hễ nghe trong thành có tiếng pháo nổ thì kéo vào chiếm thành”. Nguyễn Nhạc chọn tám lính giỏi côn quyền, ăn mặc như thường dân, để khiên cũi. Khi vào được cửa thành thì dùng đòn khiêng cũi làm côn tháo thanh cũi làm gậy đánh quân giữ cửa thành. Ông cũng đồng thời cho một toán quân vài mươi người ăn mặc như thường dân, làm bộ áp giải, mang vũ khí đi theo hai bên cũi, tổ chức một số thường dân khác chạy theo sau đoàn khiêng cũi, la hét “Đã bắt được tướng giặc rồi, đồng bào ra mà coi…”

Tuần Tuyên nghe tin, cho người lên thành xem để thăm dò, rồi truyền mở cửa thành, đưa Biện Nhạc vào thành cho chắc ăn. Thế là trúng kế Nguyễn Nhạc. Đêm đến Nguyễn Nhạc phá cũi, nhảy ra làm nội ứng: mở toan cửa thành, đốt pháo hiệu cho bên ngoài biết. Trong đánh ra, bên ngoài đánh vào, đốt dinh trại, giết tướng sĩ, làm cho cả thành tan vỡ vì một trận đánh theo kiểu Ngựa chiến thành Troya. Lúc này, trong cơn hoảng loạn, Khắc Tuyên không kịp đóng ngựa vội bỏ thành trì, chạy trốn. Từ đó, thành Quy Nhơn bị quân Tây Sơn chiếm giữ.

Thành Hoàng Đế

Từ 500 năm trước là kinh đô của nước Chămpa. Theo thư tịch cổ, ngôi thành cổ này có rất nhiều tên gọi: Vijaya, Chà Bàn, Xà Bàn, thành Lồi, Đồ Bàn… Trong đó, tên gọi Chà Bàn được sử liệu Việt Nam ghi chép sớm nhất vào thời Lê (1403) và sử dụng nhiều nhất, một số sử liệu về sau gọi là thành Đồ Bàn. Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú viết: “Sách Thiên Nam dư địa chí gọi là Chà Bàn, sau nhiều sách chép lầm là Đồ Bàn vì chữ Chà và chữ Đồ gần giống nhau”.

Một góc hành Hoàng đế.

Năm thế kỷ vương quốc Champa định đô ở vùng Vijaya (TK XI-XV), chiến tranh nhiều lần chà xát khu vực này. Sau lần bị người Khơme tấn công vào cuối thế kỷ XII, kinh đô bị hủy hoại nặng nề. Đến năm 1832, để tránh cuộc xâm lược của quân Nguyên – Mông, người Chăm lại bỏ kinh thành chạy lên vùng thượng du. Cuộc chiến với nhà Trần và đặc biệt là nhà Lê của Đại Việt vào năm 1471 đã đưa Vijaya vào Đại Việt, thành Đồ Bàn chấm dứt vai trò lịch sử của nó với vương quốc Champa. Hiếm có kinh đô nào lại xây dựng, bị hủy hoại, rồi tu sửa, phục hồi nhiều lần như Đồ Bàn.

 Hiện nay di tích này thuộc địa phận thị trấn Đập Đá và xã Nhơn Hậu huyện An Nhơn. Thành Hoàng Đế được triều đại Tây Sơn xây dựng vào năm 1775 trên cơ sở thành Đồ Bàn của Vương quốc Chămpa để lại và được chính thức gọi tên là Thành Hoàng Đế từ năm 1778. Trong suốt một thời gian dài từ 1776 đến 1793 Thành là đại bản doanh của quân Tây Sơn và sau đó là kinh đô của chính quyền Trung ương Vua Thái Đức – Nguyễn Nhạc.

Sử cũ chép về Thành Hoàng Đế: “Nguyễn Nhạc nhân đất cũ của Chiêm Thành, sửa đắp thành Đồ Bàn, đào lấy đá ong thành Lũy, mở rộng cung điện” (Sách Lê Quí Dật Sử); “Tây Sơn Nguyễn Nhạc chiếm cứ thành này, nhân nền cũ xây đá ong tiến xưng là Thành Hoàng Đế” (Đại Nam Nhất Thống Chí); “Đồ Bàn có từ lâu đời, khắc phục tự nhà Trần, bị phá vỡ tự đời nhà Lê, khôi phục được từ nhà Tây Sơn, sau dần dần phá bỏ mà nay nền cũ vẫn còn…Niên hiệu Cảnh Hưng thứ 37, nhà Tây Sơn Nguyễn Nhạc năm thứ 4 bèn nhân nơi đó mà đóng đô, mở rộng cửa đông kéo dài đến 15 dặm, tường thành được đắp cao rồi xây bằng đá ong, bề cao đến 1 trượng 4 thước, bề dày 2 trượng, mở thêm 1 cửa thành ra 5 cửa, riêng phía trước có 2 cửa, bên tả là cửa Tân Khai, bên hữu là cửa Vệ môn…phía tây thành có đắp con đê đỉnh nhĩ để phòng nước lụt, phía Tây Nam có đàn Nam Giao để tế trời đất, bên trong thành xây thêm bức thành con, chính giữa dựng điện Bát Giác…phía sau là điện Chánh Tẩm (nhà chính), trước điện Bát Giác có lầu Bát Giác; hai bên dựng hai nhà thờ, bên tả thờ tổ tiên ông Nhạc, bên hữu thờ tổ tiên bà Nhạc; trước lầu Bát Giác có cung Quyển Bồng, hai bên có dãy hành lang là nơi làm việc; trước cửa cung có cửa Tam Quan cũng gọi là cửa Quyển Bồng, hay là cửa Nam Lâu mà cửa Vệ Môn đứng ở trước mặt” (Đồ Bàn Thành Ký Nguyễn Văn Hiển).

Theo Chapman, một thương gia người Anh khi đến thăm Nguyễn Nhạc vào giữa năm 1778 viết: “Tường thành phía Đông dài nửa dặm, không thấy có đại bác, lỗ châu mai, tháp canh gì cả. Cũng không thấy có lính canh ở cổng và trên tường thành”.

Đến năm 1799, Nguyễn Ánh chiếm thành Hoàng Đế đổi tên là thành Bình Định. Năm 1800, quân Tây Sơn vây thành, đến năm 1801 chịu không nổi trùng vây của quân Tây Sơn, hai tướng giữ thành của Nguyễn Ánh là Võ Tánh và Ngô Tùng Châu tự sát.

Năm 1802, quân Tây Sơn bỏ thành ra Bắc. Khi Gia Long lên ngôi, nơi đây trở thành dinh Bình Định rồi trấn Bình Định. “Năm Gia Long thứ 7 (1808) dời đến chỗ hiện nay (thôn Kim Châu và An Ngãi), năm thứ 14 đắp bằng đất, năm thứ 16 xây bằng đá ong” (Đồ Bàn Thành Ký Nguyễn Văn Hiển). Để xây thành Bình Định, nhà Nguyễn đã dỡ lấy vật liệu đá ong từ thành Hoàng Đế và xây lăng mộ Võ Tánh ngay trên địa điểm điện Bát Giác và lầu Bát Giác.

Bảo tàng Quang Trung-Bảo tàng tâm linh

Hình thành trên chính nền nhà cũ của gia tộc Nguyễn Huệ ở làng Kiên Mỹ, ấp Kiên Thành, nay thuộc thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, quần thể Bảo tàng Quang Trung – điện thờ Tây Sơn là khu Bảo tàng Danh nhân lớn nhất cũng là một trong những bảo tàng thu hút lượng khách đến tham quan du lịch học tập nhiều nhất trên đất nước ta hiện nay. Đây là một trong những địa điểm tham quan chính của du khách khi đến Bình Định.

Rưng rưng bến sông, cây me, giếng nước

Ai đến với Phú Phong, nhẹ bước trên cầu Kiên Mỹ bắc qua con sông Kôn nổi tiếng để đến với Bảo tàng Quang Trung, cũng có thể cảm nhận được linh khí núi sông của vùng đất từng sinh ra những anh hùng áo vải Tây Sơn.  Không phải ngẫu nhiên Bảo tàng Quang Trung bắt đầu từ bến Trường Trầu bên dòng sông Kôn và kết thúc ở Điện thờ Tây Sơn tam kiệt. Với 11.057 tư liệu hiện vật gốc và hàng trăm hiện vật phục chế về Nhà Tây Sơn, Bảo tàng Quang Trung được coi đang sở hữu một kho tư liệu, hiện vật giàu có, phong phú nhất về một thời đại lừng lẫy và vị vua kiệt xuất nhất, được yêu mến nhất trong lịch sử dân tộc. Đây là thành quả một quá trình nỗ lực không ngừng của tập thể cán bộ, nhân viên Bảo tàng trong hơn 30 năm qua, kể từ ngày thành lập 1977. Bước chân của họ đã đi khắp đất nước, ra cả nước ngoài để tập hợp về đây tất cả những tư liệu hiện vật liên quan đến phong trào Tây Sơn và vua Quang Trung. Ta có thể gặp những báu vật như chiếc trống da voi của đồng bào Tây Nguyên tham gia phong trào Tây Sơn, ấn tín, các sắc phong, gia phả của nhiều văn thần, võ tướng; chuông đồng, súng thần công, ấn tín, tiền đồng Thái Đức, Quang Trung, Cảnh Thịnh, tấm bia mộ tổ dòng họ Tây Sơn…Nhiều hiện vật trong số này được nhân dân Bình Định và nhiều địa phương trong cả nước lưu giữ tặng lại bảo tàng, cũng có một số hiện vật đến thông qua đại sứ quán các nước bạn mà Bảo tàng nhờ cậy. Tuy vậy, thật xúc động là khi ta được tận mắt di tích bến Trường Trầu lặng lẽ giấu mình sau lùm tre bên bờ sông Kôn mênh mông cuộn nước, cái bến sông mà nhờ nghề buôn trầu lên nguồn xuống biển, Nguyễn Nhạc đã thu phục nhân tâm, tập hợp lực lượng nhân dân Kinh - Thượng, mưu nghiệp lớn. Càng xúc động hơn là được đứng dưới bóng me cổ thụ từng che mát anh em Nguyễn Huệ giờ vẫn xanh um và được uống những ngụm nước ngọt mát, trong vắt, kéo lên từ cái giếng nhà Nguyễn Huệ. Những ngụm nước như kéo gần lại hơn 200 năm lịch sử và ta như thấy Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu, Ngô Văn Sở vừa từ Điện thờ bước ra, đến chia cùng ta gàu nước được kéo lên từ cái giếng đá ong thân thiết của họ.

Cây me của gia đình Tây Sơn tam kiệt.

Nhạc, võ, hai trong một

Võ thuật và trống trận Quang Trung là hai di sản phi vật thể lớn của Nhà Tây Sơn. Ba anh em Tây Sơn là những người có vai trò rất to lớn khai sáng, phát triển, hoàn thiện các võ phái Bình Định, cải cách nâng cao các bài quyền, bài binh khí để truyền dạy cho nghĩa quân. Tương truyền, Nguyễn Huệ sáng tạo Yến phi quyền, Độc lư thương, Nguyễn Lữ sáng tạo Hùng kê quyền, được coi là những độc chiêu của võ thuật Binh Định. Cũng chính Nguyễn Huệ đã chủ trương hình thức đưa nhạc trống vào khích lệ ba quân chiến đấu, còn truyền lại ngày nay với tên gọi trống trận Quang Trung.

Bởi vậy, nhà biểu diễn võ, nhạc và đội biểu diễn nhạc, võ đã trở thành một phần không thể thiếu của Bảo tàng Quang Trung. Các buổi biểu diễn nhạc, võ bao giờ cũng là một final bất ngờ và kỳ thú với du khách. Tại đấy, người ta sẽ khám phá ra ở cái xứ được gọi là đất võ trời văn này, nhạc và võ chỉ là một, trong nhạc có võ, võ cũng đầy chất nhạc, những người biểu diễn quyền cước, binh khí và kèn trống kia khó phân biệt ai là nghệ sĩ còn ai là võ sĩ. Chỉ có thể gọi họ bằng một cái tên: những nghệ sĩ –võ sĩ. Những người này đã giúp ta hiểu: võ thuật ở tầm cao và chiều sâu của nó, chính là văn hóa là nghệ thuật, và nghệ thuật, văn hóa có thể và cần phải song hành với võ công để lập nên những kỳ tích cho non sông, đất nước. Mà hình như đó là di huấn từ cuộc đời 39 mùa xuân của người anh hùng kiêm tài văn võ Nguyễn Huệ, bậc đại trí, đại dũng, đại nhân trong lịch sử dân tộc.

Dễ hiểu vì sao Bảo tàng Quang Trung là bảo tàng duy nhất ở nước ta có một đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp trong biên chế của mình, chuyên biểu diễn nhạc, võ.

Bảo tàng tâm linh, nơi thể hiện niềm tự hào dân tộc

Giếng nước của gia đình Tây sơn Tam kiệt.

Bảo tàng Quang Trung chính thức thành lập năm 1977, cho đến nay đã 30 tuổi. Tuy vậy, tiền thân của nó, đền thờ Tây Sơn thì đã hơn 200 năm tuổi. Năm 1827, sau 25 năm nhà Tây Sơn sụp đổ và bị trả thù, truy quét hiểm ác, dai dẳng, bị tìm mọi cách bôi nhọ và xóa trắng mọi dấu tích, bất chấp sự cấm đoán hà khắc của nhà Nguyễn, trên nền nhà, vườn cũ của anh em Nguyễn Huệ, lúc ấy đã thành bãi đất hoang, người dân làng Kiên Mỹ âm thầm xây lên một ngôi đình để thờ ba anh em Tây Sơn mang tên "đền Kiên Mỹ". Từ đó, tại đây hàng năm diễn ra hai dịp lễ vào cuối tháng 11 và mùng 5 tháng Giêng âm lịch. Đó là hai ngày trọng đại nhất của nhà Tây Sơn: ngày Quang Trung đăng quang trên núi Bân và ngày đại thắng Đống Đa, quét sạch 29 vạn quân xâm lược Thanh. Người dân Kiên Mỹ đã phải che mắt nhà Nguyễn khi gọi đây là những ngày "cúng cơm mới". Hai ngày lễ trọng tại đền Kiên Mỹ ấy kéo dài liên tục hơn trăm năm, không chỉ thu hút người Kiên Mỹ, Tây Sơn mà ngày càng có nhiều người thập phương tìm đến. Trong kháng chiến chống Pháp, thực hiện chủ trương "tiêu thổ kháng chiến", ngôi đền ấy đã thành ngọn đuốc và những ngày lễ nhớ Tây Sơn tạm đứt đoạn.

Đến những năm 1960, đền thờ Tây Sơn được tạo dựng trên nền đất cũ. Ngay lập tức, đây lại thành một điểm quy tụ bốn phương. Rất tự nhiên, hàng năm, cứ đúng vào ngày 5 tháng Giêng, ngày kỷ niệm chiến thắng Đống Đa, hàng vạn người lại hành hương về đây, cùng nhân dân Kiên Mỹ, Tây Sơn làm nên một lễ hội lớn tưởng nhớ người anh hùng Nguyễn Huệ, niềm tự hào lớn lao của mỗi con người Việt Nam dù ở bất cứ phương trời nào. Có ai đó đã từng nói, người Pháp hằng hãnh diện về Napoleon Bonaparte, thiên tài quân sự đã chinh phục cả Âu Châu, làm rạng danh nước Pháp. Người Mỹ cũng rất tự hào khi có nhà chính trị thiên tài George Washington, vị tổng thống lỗi lạc đã đưa đất nước Hoa Kỳ đến bến vinh quang. Thì người Việt Nam càng có quyền tự hào về vua Quang Trung, người gồm có cả thiên tài quân sự Napoleon và thiên tài chính trị Washington và đã bách chiến bách thắng trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước vĩ đại của mình.

Chưa có được một Khải hoàn môn hoành tráng tưởng niệm Napoleon như người Pháp đã dựng ở trung tâm Paris, sự hình thành đền thờ Tây Sơn 200 năm trước và Bảo tàng Quang Trung hơn 30 năm gần đây là sự thể hiện tình yêu, sự ngưỡng mộ, niềm tự hào lớn lao, không chỉ của người dân Bình Định mà còn của nhân dân cả nước với một con người Việt Nam tuyệt vời. Đây chính là một bảo tàng tâm linh, bảo tàng của lòng người.

Không có gì lạ khi trong 30 năm qua, Bào tàng này đã có những phát triển vượt bậc trong sự quan tâm chăm sóc, ủng hộ hết mình của Đảng, chính quyền, nhân dân Bình Định, thủ đô Hà Nội, TPHCM và nhiều địa phương khắp ba miền Bắc, Trung, Nam. Tỉnh Gia Lai tặng một ngôi nhà rông Bana, nhiều doanh nhân đã tài trợ xây tượng đài Quang Trung, tượng Tây Sơn tam kiệt và sáu văn thần, võ tướng thời Tây Sơn, phục chế và mua một số hiện vật quý...Bảo tàng đang ngày càng to đẹp, khang trang, hiện vật tư liệu ngày càng phong phú, các lễ hội Đống Đa mỗi năm ngày càng đông vui bội phần.

Anh hoa và hào khí của Tây Sơn – Nguyễn Huệ lại sẽ tỏa sáng rực rỡ, tạo nên niềm tin lớn, sức mạnh lớn trong quyết tâm bứt phá, hội tụ và phát triển vì một tương lai giàu đẹp của quê hương. Nguyễn Huệ đã từng nói cùng ta: không có gì là không thể…

Từ đường Võ Văn Dũng

Từ đường Võ Văn Dũng, một danh tướng của phong trào Tây Sơn, được xây dựng ngay trên quê hương ông, nay là thôn Phú Mỹ, xã Tây Phú, huyện Tây Sơn. Từ thị trấn Phú Phong rẽ trái khoảng 3 km là tới thôn Phú Mỹ.

Toàn cảnh ngôi nhà Từ đường Võ Văn Dũng.

Theo gia phả họ Võ do Võ Thừa Khuông, di duệ đời thứ 9, soạn trên cơ sở những tài liệu cũ, thì thuỷ tổ của họ Võ ở Phú Mỹ là Võ Văn Của, vốn quê gốc ở Nghệ An, di cư vào nam từ thế kỷ 17, đến lập nghiệp tại thôn Phú Lộc, ấp An Tư, tổng Thời Đôn, huyện Tuy Viễn. Đến thời thứ hai là Võ Văn Thọ, gia thế họ Võ đã tương đối khá giả. Võ Văn Thọ đã xuất tài lực tổ chức việc đắp đập Lộc Đổng và tham gia đắp nhiều đập khác dẫn nước vào đồng ruộng, mở mang kinh tế nông nghiệp, không chỉ cho Phú Mỹ mà còn cho cả nhiều làng xã khác trong vùng. Đời thứ ba là Võ Văn Khanh. Ông là một người tài trí, có công huân với nhà nước, từng được phong tước Nam. Võ Văn Khanh kết duyên cùng Nguyễn Thị Điểm, sinh hai nam là Võ Văn Chỉnh và Võ Văn Dũng.

Võ Văn Dũng thuở nhỏ có tên là Độ, là một người thông minh, có chí khí từ sớm. Sống trong một gia đình khá giả, ông có điều kiện được học hành, lại hay đi đây đi đó nên hiểu biết rất rõ về thời cuộc, tầm nhìn được mở mang. Đặc biệt, ông rất giỏi võ nghệ, một phần là sự kế thừa truyền thống thượng võ của quê hương, một phần chính là sự nỗ lực rèn luyện của bản thân, bao gồm đủ các môn cung, đao, kiếm…

Hàng năm đến ngày mùng 8 tháng 2 âm lịch, con cháu dòng tộc Võ lại tập trung về đây, làm giỗ Võ Văn Dũng, để tưởng nhớ tổ tiên, cũng là để tưởng nhớ một vị tướng lỗi lạc đã có những đóng góp xuất sắc đối với phong trào Tây Sơn, với dân tộc, làm rạng danh họ mạc, xóm làng, làm rạng danh quê hương Bình Định.

Ngày nay, về thăm quê hương, nơi sinh ra Võ tướng Võ Văn Dũng, đứng trên nền nhà Từ đường dòng họ Võ, mỗi chúng ta càng thấy tự hào về truyền thống quật khởi, yêu nước của cha ông.

Từ đường Bùi Thị Xuân:

Lễ khánh thành Từ đường nữ đô đốc Bùi Thị Xuân.

Trong nhà thờ từ đường dòng họ Bùi ở huyện Tây Sơn có bàn thờ nữ tướng Bùi Thị Xuân. Đô đốc Bùi Thị Xuân người xã Bình Phú, huyện Tây Sơn, là vợ Thiếu phó Trần Quang Diệu. Hai vợ chồng bà là dũng tướng trụ cột của phong trào Tây Sơn. Bà đã ra Bắc vào Nam, tung hoành cả biên giới phía Tây, lập nhiều chiến công vang dội, gây khiếp sợ cho cả quân vua Lê, chúa Trịnh và chúa Nguyễn. Khi Quang Trung lên ngôi 1788, bà được phong chức Đô đốc. Sau khi vua Quang Trung mất (1792), triều đình Tây Sơn suy yếu, quân Nguyễn Ánh chiếm Phú Xuân. Năm 1802, chồng bà là Trần Quang Diệu bị xử tử cùng vua Quang Toản. Bà cùng các con bị sa vào tay kẻ thù và bị xử voi giày.

DI TÍCH CÁC NHÀ YÊU NƯỚC VÀ KHÁNG CHIẾN

Lăng Mai Xuân Thưởng:

Hơn 200 được xây dựng theo kiểu kiến trúc cổ trên một ngọn đồi bên cạnh quốc lộ 19 thuộc xã Bình Hòa, huyện Tây Sơn để tưởng nhớ Mai Xuân Thưởng - nhà yêu nước và cũng là lãnh tụ xuất sắc của phong trào Cần Vương kháng Pháp tại Bình Định. Từ trên ngọn đồi này, nơi năm xưa Mai Xuân Thưởng đã dựng cờ khởi nghĩa, khách tham quan có thể quan sát thấy các căn cứ kháng Pháp của nghĩa quân như Phú Phong, Tiên Thuận, Linh Đổng, Hương Sơn.. Đã hơn một trăm năm kể từ ngày Mai Xuân Thưởng hy sinh nhưng tên tuổi ông vẫn sống mãi trong lòng người dân Bình Định, trong lòng nhân dân cả nước.

Mộ Đào Tấn:

Trong số các danh nhân văn hóa ở Bình Định, Đào Tấn hiện lên như một ngôi sao sáng chói. Ông là người yêu nước, là vị quan nổi tiếng liêm khiết, là nhà thơ, nhà soạn tuồng xuất sắc của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Với những đóng góp to lớn, Đào Tấn được suy tôn là “Hậu Tổ” của nghệ thuật tuồng Việt Nam. Mộ Đào Tấn nằm trên núi Huỳnh Mai thuộc xã Phước Nghĩa, huyện Tuy Phước, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 15km, là một di tích lịch sử - văn hóa quan trọng đã được trùng tu tôn tạo trên nguyên gốc, ngày càng thu hút nhiều khách đến tham quan để tri ân người đã có công lao trong việc kế thừa và phát triển nền văn hóa dân tộc.

Căn cứ Núi Bà:

Núi Bà - tên của cả một dãy núi gồm 66 đỉnh cao thấp khác nhau, được uốn lượn đan xen gấp nếp củacác mạch Trường Sơn đâm ra biển Đông. Núi Bà nằm về phía đông-nam huyện Phù Cát, có tổng diệntích khoảng 40km2, địa hình tự nhiên phong phú với một thảm thực vật đa dạng, là nơi tồn cư của những quần thể động vật quý hiếm.

Các sử gia triều Nguyễn gọi Núi Bà là Phô Nghinh Đại Sơn. Xung quanh Núi Bà có nhiều di tích khá nổi tiếng như miếu Bà, đền thờ thần Núi, đá Vọng Phu, chùa Linh Phong với sự tích về Ông Núi, các giếng vuông, phế tích tháp cổ Chăm-pa. Tháp cổ Hòn Chuông mà dân gian gọi là Hòn Bà Chằng là một di tích văn hóa Chăm được xây dựng trên một khối đá to cao, là một kiến trúc duy nhất mà trong bản thống kê các di tích Chăm ở Trung Kỳ của người Pháp chưa được nhắc đến.

Căn cứ Núi bà.

Núi Bà là một căn cứ địa cách mạng vững chắc của quân và dân Bình Định trong kháng chiến chống Mỹ. Núi Bà có một vị trí chiến lược khá quan trọng của tỉnh Bình Định và đặc biệt ở Khu Đông, rất thuận tiện cho việc vận chuyển giao thông đường thủy lẫn đường bộ. Nhìn nhận về mặt quân sự, Núi Bà vừa là một vị trí mang tính phòng ngự chiến lược, vừa là vị trí tiến công khi có thời cơ. Cho nên làm chủ được Núi Bà thì có thể làm chủ được Khu Đông Bình Định. Do đó Núi Bà được chọn làm căn cứ địa cách mạng của Khu Đông tỉnh Bình Định. Trong kháng chiến chống Pháp, Núi Bà chưa trở thành một căn cứ, tuy vậy nơi đây cũng đã được hình thành các trụ bồ dọc ven biển để báo động cho nhân dân quanh vùng mỗi khi có Pháp đổ bộ. Chín năm kháng chiến chống Pháp, các cơ sở cách mạng Bình Định hầu hết đóng ở đây. Suốt thời gian kháng chiến chống Mỹ, căn cứ Núi Bà ngày càng được củng cố vững chắc, trở thành chỗ dựa cho lực lượng tỉnh, cũng như các huyện Tuy Phước, An Nhơn, Phù Cát và Quy Nhơn.

Căn cứ địa cách mạng Núi Bà như một người mẹ hiền che chở và nuôi giấu lực lượng cách mạng trong suốt thời kỳ chiến tranh gian khổ. Núi Bà đã ghi nhận biết bao chiến công của cán bộ, chiến sĩ, ghi nhận sự hy sinh mất mát và khắc sâu tội ác của Mỹ-ngụy đã gây ra cho nhân dân ta. Ai đã từng sống, chiến đấu ở căn cứ Núi Bà có lẽ không bao giờ quên được những kỷ niệm của những năm tháng chiến tranh gian khổ. Những địa danh như khu 10, Trạm xá Khu Đông, đồi Búp Sen, Vĩnh Hội, Hố Nhảy, hang Động Rừng, Sơn Rái... là những hình ảnh không bao giờ quên. Và có lẽ không một địa danh nào ở đây lại không mang những kỷ niệm sâu sắc đối với những người từng sống, chiến đấu ở trên chiến trường Khu Đông.

Núi Bà - căn cứ địa cách mạng của tỉnh Bình Định với 22 điểm di tích đang được bảo vệ gìn giữ đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận Di tích lịch sử - văn hóa ngày 25-1-1994 và đã được Ủy ban nhân dân tỉnh cho thành lập Đề án tôn tạo Khu di tích.

Di tích tôn giáo

Chùa Thập Tháp (Thập Tháp Di Đà)

Chùa Thập Tháp Di Đà nằm cách TP Quy Nhơn khoảng 28km, được hòa thượng Nguyên Thiều dựng vào năm 1683, trên gò đất có mười ngôi tháp Chàm. Đây là ngôi chùa cổ nhất thuộc phái Lâm Tế, được trùng tu bốn lần vào các năm 1820, 1849, 1877 và 1924. Đến nay chùa vẫn giữ được tổng thể hài hòa, tôn nghiêm, cổ kính. Nằm khuất trong vườn cây cổ thụ sum suê cành lá và quanh năm đắm chìm trong mầu xanh của ao đầm, của cây cỏ, chùa Thập Tháp từ lâu đã trở thành danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Bình Định, thu hút nhiều khách thập phương về hành hương, cúng tế, lễ bái hoặc tham quan, khảo cứu vì đây là ngôi cổ tự xưa nhất ở miền trung.

Chùa nằm phía bắc thành cổ Đồ Bàn, kinh đô của nước Chiêm Thành ngày xưa, gần Quốc lộ I và cách thành phố Quy Nhơn độ 28km. Thời xa xưa, trên gò đất cao ấy có đến mười ngôi tháp Chàm cổ kính nằm án ngữ mặt bắc Đồ Bàn cho nên người ta mới gọi là gò Thập Tháp. Kể từ khi vào trấn đất Thuận Hóa và mở mang bờ cõi xa dần về phía nam, ngoài việc chăm lo về chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa trong hơn hai trăm năm, các chúa Nguyễn đều coi trọng đạo Phật cho xây dựng nhiều chùa chiền, đúc nhiều chuông, nhiều tượng Phật. 

Bấy giờ có Tế Viên Hòa thượng, Giác Phong lão tổ đều là người Trung Hoa tham gia truyền bá đạo Phật ở Việt Nam. Năm Ất Tỵ (1665) đời chúa Nguyễn Phước Tần, có vị thiền sư người Trung Hoa đến Việt Nam, ở lại đất Quy Ninh (Bình Định ngày nay) để tìm đất cất chùa. Ông cho phá hủy mười ngôi tháp Chàm đã bị sụp đổ để lấy gạch xây dựng chùa thờ Phật gọi là chùa Thập Tháp.

Chùa được xây dựng vào năm Quý Hợi (1683) niên hiệu Chánh Hòa nhà Lê và vị thiền sư có công xây dựng chùa chính là hòa thượng họ Tạ, húy là Nguyên Thiều, quê quán ở Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Ông tu về Thiền Tông thuộc phái Lâm Tế. Năm Tân Mùi (1691) nhà Lê, chùa được vua Lê Hiển Tông ban cho biển ngạch đề "Thập Tháp Di Đà tự". Sau khi xây dựng chùa Thập Tháp Di Đà, hòa thượng Nguyên Thiều mở trường truyền đạo. Được ít lâu, ông giao cho đệ tử trông coi rồi ra Thuận Hóa lập chùa Phổ Thành ở Hà Trung, vào Gia Định lập chùa Giác Duyên, sau đó trở ra Thuận Hóa lập thêm chùa Quốc Ân.

Dưới đời chúa Nguyễn Phước Trăn (1687-1691) ngài phụng mệnh nhà chúa trở về Trung Hoa tìm mời thêm các danh tăng và cung thỉnh pháp tượng, pháp khí đem về miền trung Việt Nam. Chùa Thập Tháp Di Đà xây bằng gạch Chàm, lợp ngói âm dương, bốn vày, ba gian, hai chái, kiến trúc theo hình chữ khẩu, có hai lớp tường bao bọc chung quanh. Những khu vực chính của chùa gồm có khu chính điện, khu phương trượng, khu tây đường và đông đường, có dãy hành lang rộng lớn nối liền, bao bọc một sân rộng, có lát gạch vuông, bày đủ các thứ cây cảnh. ở khu chính diện, kết cấu chủ yếu là gỗ quý được chạm trổ rất tinh xảo, công phu với những họa tiết hoa cuộn, hoa sen, rồng, phượng cách điệu. Đầu tám hàng trụ cột và đầu kèo được chạm, trang trí cổ tự. Ngoài những công trình chính, bên cạnh chùa còn có 24 bảo tháp lớn nhỏ mang hình thái kiến trúc nhiều thời khác nhau. Trước chùa còn có ao sen rộng, xây bằng đá ong xưa.

Trong chùa có ba tạng kinh, giấy khổ rộng, chữ to bằng ngón tay út. Bộ kinh hết sức cổ, có lẽ do sư tổ Nguyên Thiều đã thỉnh từ Trung Hoa sang vào lúc phụng mệnh chúa Nguyễn về nước vào cuối thế kỷ 17. Ngoài ra, chùa còn có hai tượng Hộ Pháp và 36 tượng La Hán bằng gỗ chạm khắc tinh vi. 36 tượng La Hán, mỗi vị cao nửa mét, thờ hai bên án cạnh bàn thờ Phật, mỗi bên 18 vị, mỗi vị có khuôn mặt và dáng điệu khác nhau. Còn hai tượng Hộ Pháp đặt ở hai bên cửa bước vào cao đến hai mét. Tại chùa còn có quả chuông đường kính 70cm, nặng 500kg, đúc từ năm 1893.

Trong tất cả chùa chiền ở miền trung được xây cất từ thời các chúa Nguyễn, thì chùa Thập Tháp Di Đà ở Bình Định là chùa cổ nhất thuộc phái Lâm Tế và được xem như là chùa tổ. Nhưng về sau, ngài Nguyên Thiều ra trụ trì ở Thuận Hóa và tịch ở đó cho nên đệ tử mới lấy chùa Quốc Ân làm chùa tổ thay cho chùa Thập Tháp Di Đà. Còn ngài Nguyên Thiều sau khi tịch (1729) được chúa Nguyễn Phước Chu ban thụy hiệu là "Hạnh Đoan Thiền Sư" và có bài minh khắc vào bia đá ca ngợi đạo đức của hòa thượng.

Qua nhiều lần trùng tu, tái tạo, cái cũ và cái mới đan xen, nhưng chùa vẫn giữ được tổng thể hài hòa, tôn nghiêm cổ kính. Chùa được trùng tu cả thảy bốn lần. Lần trùng tu đầu tiên vào năm Minh Mạng thứ nhất (1820), lần thứ hai vào năm Kỷ Tỵ (1849) dưới thời chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, lần thứ ba vào năm Bính Tuất (1877) dưới thời vua Tự Đức và lần thứ tư vào năm Giáp Tý (1924) dưới triều vua Khải Định. Năm 1924, hòa thượng Phước Huệ là tổ thứ 40 phái Lâm Tế và là tổ thứ 13 của phái Nguyên Thiều đứng ra xây dựng, mở rộng chùa và dựng thêm cổng Tam quan như ngày nay.(Theo ST)

Chùa Sơn Long (chùa Hang)

Chùa Sơn Long, dân địa phương quen gọi là chùa Hang, đã được thành lập hơn 300 năm và là một ngôi chùa cổ thứ nhì của tỉnh Bình Định, chỉ đứng sau chùa Thập Tháp (An Nhơn). Chùa Sơn Long nguyên là Giang Long Thiền Thất, tọa lạc trên sườn núi Trường Úc. Sau đó, chùa được tái thiết trên một khu đất hình thang sát chân núi (Trường Úc), cách cầu Trường Úc khoảng 700m về hướng Đông, nay thuộc phường Nhơn Bình, TP QuyNhơn. Bạn sẽ gặp một ngôi chùa cổ nép mình bên núi Trường Úc, cổng tam quan khiêm nhường hòa mình cùng hàng rào cây lá xanh mướt xưa kia nay đã lùi vào trong, nhường chỗ cho đôi cổng mới được thiết kế quy mô và hiện đại hơn nhưng ngôi chùa vẫn giữ được những nét rêu phong, cổ kính ban sơ của nó.< Kiến trúc chùa đã có nhiều thay đổi nhưng khuôn viên chùa vẫn giữ như cũ. Mặt tiền hình cánh cung niễng, mặt hậu đất đá lồi lõm sát vách núi. Chính vẻ mộc mạc, hoang sơ của khuôn viên chùa đã phần nào tạo nên vẻ u huyền cổ kính cho chùa. Tương truyền, dưới chân núi phía sau chùa, xưa kia có một tảng đá rất lớn trông như miệng rồng có hàm trên, hàm dưới với một cái lưỡi nhỏ đưa ra ở chính giữa. Vào những tiết hạn hán, các cụ tiên chỉ trong vùng thường đến đây ăn chay, đạp đất để cầu mưa thuận, gió hòa. Tảng đá đó có tên gọi đá Hàm Long, nay không còn nữa vì nạn chẻ đá. Trong chùa có 15 ngôi mộ tháp lớn nhỏ, có những ngôi mộ vẫn còn giữ nét rêu phong, cũ kỹ của mấy trăm năm về trước, có mộ tháp đã được trùng tu khang trang hơn. Theo Đại Thích Đồng Đức, đang trụ trì chùa, năm 1992, chùa đã cho xây dựng thêm tượng Bồ tát Quan âm ở hướng Tây. Năm 1996, xây tượng Thích ca Mầu Ni tọa thiền phía tây bắc... mang lại sắc khí mới cho chùa.

Đến Sơn Long, bạn còn được chiêm ngưỡng bức tượng Phật Lồi 7 đầu rồng bằng đá nặng 1,5 tấn, cao 3,1 m với chạm khắc hoa văn sau lưng. Bức tượng được xác định của người Chămpa tạc từ thế kỷ thứ VIII... Dù dáng vẻ còn khiêm tốn nhưng Sơn Long vẫn dập dìu khách phương xa đến thăm thú, lễ bái, vãn cảnh... đặc biệt là trong những dịp đầu năm mới.

Chùa Long Khánh:

Nằm ở vị trí trung tâm thành phố, chùa Long Khánh là một trong những trung tâm phật giáo lớn của Bình Định, là nơi sinh hoạt lễ bái của giới tăng ni phật tử và là điểm tham quan du lịch hấp dẫn cho du khách gần xa khi có dịp đến với Thành phố biển Quy Nhơn.

Chùa được kiến trúc theo hình chữ “Khẩu” phía trước có chánh điện gồm Thượng điện và Hậu điện. Phần Thượng điện thờ Phật Adiđà và Quan âm Chuẩn đề, Hậu điện thờ Phật tổ Thích Ca. Hai bên có Đông phòng và Tây phòng. Hai dãy này là chỗ dành riêng cho tăng ni. Phía sau là Tổ đình, thờ các vị khai sơn phá thạch.

Kiến trúc nguyên thủy của chùa không còn nữa. Ngôi chùa hiện nay về cơ bản được xây dựng lại vào năm 1956 và hoàn thiện vào năm 1972. Phong cách kiến trúc này mang dáng dấp kiểu chùa của cư dân miền Nam Trung Hoa. Về giá trị kiến trúc, chùa Long Khánh không có gì độc đáo, nhưng với lịch sử hình thành và phát triển của Quy nhơn, chùa Long Khánh có một vị trí khá đặc biệt.

Minh văn khắc trên chuông và ghi chép trong cuốn Lịch sử chùa Long Khánh hiện được lưu giữ tại chùa cho biết chùa Long Khánh thuộc thôn Vĩnh Khánh, phủ Quy Nhơn, do thiền sư Tích Thọ đời thứ 38 của thiền phái Lâm Tế tên là Nguyễn Trinh Tường khởi dựng. Quả chuông được đúc vào năm Gia Long thứ 4, tức năm 1805. Điều này tương đối phù hợp với ghi chép trong Đại Nam Nhất Thống chí. Nhưng theo các nguồn tài liệu Phật giáo khác thì người có công khởi dựng chùa Long Khánh là thiền sư Đức Sơn. Thần vị của hòa thượng này hiện được thờ tại Tổ đình. Ông là Tổ thứ 35 của dòng Lâm Tế Chánh tông, sinh năm Kỷ Mùi, viên tịch ngày 2 tháng Chạp năm Tân Dậu.

Cũng theo các tài liệu Phật giáo, thiền sư Đức Sơn đến lập ra ngôi Tổ đình Long khánh của dòng Lâm Tế, vùng đất này còn mang địa danh Quy Ninh. Đối chiếu với lịch sử, địa danh này tồn tại trong khoảng thời gian từ năm 1651 đến năm 1742. Trong chùa, ngoài quả chuông, còn có một hiện vật cổ được các sư tăng cho là bảo vật của chùa.

Như trên đã nói, Hòa thượng Đức Sơn đến Quy Ninh trong thời gian từ 1651 đến 1742. Trong khoảng thời gian này chỉ có một năm Ất Mùi là năm 1715. Như vậy, chùa Long Khánh được xây dựng muộn nhất là năm 1715, thời điểm Hòa thượng Đức Sơn cho đúc chiếc khánh, chứ không phải năm 1807 như Đại Nam Nhất Thống chí và các tài liệu gần đây xác định. Hòa thượng Nguyễn Trinh Tường không phải là người kiến lập chùa mà chỉ là người có công tôn tạo chùa và đúc quả chuông vào năm 1805. Về hệ phái Hòa thượng Nguyễn Trinh Tường thuộc đời 38 của dòng Lâm Tế và nếu Hòa thượng Đức Sơn là Tổ thứ nhất thì ông là đời thứ 4 của Tổ đình Long Khánh.

Từ đây, có thể kết luận rằng, chùa Long Khánh được xây dựng trên đất làng Vĩnh Khánh, phủ Quy Ninh vào khoảng năm 1715. Giữa thế kỷ XVIII phủ Quy Ninh đổi thành Quy Nhơn, đến cuối thế kỷ 19 làng Vĩnh Khánh đổi thành làng Cẩm Thượng, thuộc huyện Tuy Phước, phủ Quy Nhơn đổi thành tỉnh Bình Định. Các tác giả Đại Nam Nhất Thống chí đã ghép chùa Long Khánh vào địa danh cuối cùng này.

Mặc dù đã qua bao lần trùng tu, tái tạo, chùa Long Khánh vẫn là một di tích lịch sử - văn hóa có giá trị. Đó là một trong hai ngôi chùa có niên đại cổ kính nhất ở Bình Định. Ngày nay, du khách gần xa khi đến chùa không thể không có những phút giây cảm giác tĩnh mịch, sâu lắng và tôn kính như đi vào cửa thế giới hư vô cực lạc.

Chùa Linh Phong:

Chùa Linh Phong, còn gọi là chùa Ông Núi, được xây dựng từ đời nhà Lê, cách nay khoảng ngót 700 năm. Chùa tọa lạc ở lưng chừng núi phía nam trong dãy núi Bà thuộc thôn Phương Phi, xã Cát Tiến, huyện Phù Cát.Tương truyền, năm Nhâm Ngọ đời Hiếu Minh hoàng đế thứ 11, một ông sư người Trung Hoa, có pháp hiệu Thiện Trí Thiền Sư đến đây dựng am nhỏ gọi là Dũng Tuyền Tự (chùa suối). Ông ở ẩn trong núi, ngày đêm tụng kinh niệm Phật nên dân làng gọi sư là Ông Núi. Thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), chúa xuống chiếu cho làm lại chùa, đặt tên là Linh Phong Thiền Tự, ban pháp danh cho nhà sư khai sáng chùa là Tịnh Giáo Thiện Từ Đại lão Thiền sư. Nhà sư viên tịch vào thời Tây Sơn.

Phong cảnh chùa Linh Phong thật kỳ vĩ. Thủa xưa, chùa nằm dưới rừng cây cổ thụ, tịch mịch thâm u. Cây sống lâu đời, có hình thù cổ quái và cao vút. Quanh chùa, đá mọc ngổn ngang. Hòn đứng sừng sững giữa trời. Hòn chen chúc cùng cây cối. Có những hòn tạo hình thành con cóc khổng lồ hoặc đôi trống mái đang âu yếm nhau. Lại có những hòn đá lớn nhẵn nhụi nằm rải rác như một đàn voi khổng lồ. Chùa cất ở lưng chừng nên sau chùa có núi cao ngất. Nguồn nước trong mát từ các mạch trên đỉnh núi chảy xuống, dẫn đến chùa bằng hai nhánh. Từ cổng chùa nhìn xuống chân núi, thấy làng mạc xanh tươi, nhà cửa quần tụ. Xa hơn nữa, một phần đầm Thị Nại hiện lấp lánh dưới ánh mặt trời.

Ở sườn núi phía đông có một hang đá rộng ăn sâu vào lòng núi. Đó là nơi Ông Núi thường tu luyện. Đồn rằng trong hang có bàn đá, ghế đá và nhiều vật dụng đều bằng đá. Lại có 2 con cọp mun hiền lành của Thiền Sư để lại. Thỉnh thoảng cọp ra khỏi hang đi tìm trái cây ăn chứ không bắt heo bò của dân. Hang bỏ lâu đời, đường vào hang gai mọc lấp đầy nên bây giờ chẳng ai dám vào và cũng không thể vào được.

Chùa Linh Phong đã mấy lần đón Đào Tấn từ quan về tu ở đấy. Trong "Bài ký chùa Linh Phong", Đào Tấn viết: "Những năm vua Kiến Phước, Hàm Nghi, Tấn tôi bỏ quan về núi này, chùa này, một năm ở chùa quá nửa…". Ông có ghi câu đối ở đây:

Khói hoa một mớ trời dành sẵn

Ao biển mười năm mộng trở về.

Sau khi chùa được đặt tên Linh Phong Thiền Tự, chùa còn được vua ban câu đối:

Bờ biển gặp duyên may, mưa pháp cùng trời thấm nhuần đất Phật;

Núi Linh đọng khí tốt, mây lành khắp chốn che chở người đời.

Năm thứ 3 Hiếu Võ Hoàng đế Nhà Tây Sơn, Ông Núi viên tịch, được sư sãi an táng trong ngôi tháp bên cạnh chùa. Tháp cũng có câu đối ca ngợi cảnh chùa và công đức nhà sư.

Chùa Linh Phong đã được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa. Nhà nước cũng cho phép xây dựng lại chùa theo nguyện vọng của nhân dân. Ngày nay, chùa Linh Phong sừng sững mái son nổi bật trên nền cỏ cây xanh biếc với tượng Phật Bà ngự giữa tòa sen trước sân chùa. Hai tòa tháp an táng các nhà sư cũng được tu bổ lại. Ngày rằm, mồng một, sư sãi và đệ tử khắp nơi về chùa dâng hương lễ Phật. Tết và những ngày lễ lớn, ngày nghỉ, nhân dân nô nức chen chân về chùa Linh Phong vãn cảnh, tham quan. Chùa Linh Phong ngày nay trở thành một địa chỉ du lịch khá hấp dẫn của Bình Định.

Nhà thờ Chánh tòa Quy Nhơn - Kiến trúc tôn giáo đặc sắc vùng đất Bình Định

Nhà thờ Chánh tòa Quy Nhơn (còn có danh hiệu Đức Mẹ Lên Trời và còn có tên khác là nhà thờ Nhọn) tọa lạc tại 122 đường Trần Hưng Ðạo, Thành Phố Quy Nhơn. Nhà thờ có khuôn viên khá rộng và được trồng nhiều cây xanh, do vị trí nằm đối diện với trục đường Lê Thánh Tôn nên chúng ta có thể ngắm được nhà thờ từ đầu đường Nguyễn Huệ.

Toàn cảnh mặt trước nhà thờ Chánh tòa lúc lên đèn.

Kiến trúc hình mái vòm tuyệt đẹp bên trong nhà thờ Chánh tòa.

Cung thánh với trần vòm cao tạo vẻ đẹp thanh thoát.

Nhà thờ Chánh tòa Quy Nhơn là nơi diễn ra những buổi lễ quan trọng như "Lễ phong chức" cho các linh mục.

Toàn cảnh mặt trước nhà thờ vào ban ngày.

Ban biên tập (tổng hợp)


   Thời tiết
Thị trường
Giá vàng
Tỷ giá
Thống kê
Lượt truy cập:
    344236368

Đang truy cập: 113